Hiển thị các bài đăng có nhãn LÁ SỐ TỬ VI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LÁ SỐ TỬ VI. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

Ý nghĩa các cung trong lá số Tử Vi

Ý nghĩa các cung trong lá số Tử Vi

     1. Cung Mệnh trong lá số Tử vi


     Mệnh trong tu vi là tư tưởng, là chí hướng, tính cách và khả năng của con người; Mệnh mỗi người có một hướng đi rất rõ ràng, trong vô thức ta vẫn đi rất đúng hướng. Mệnh là “cái hồn” của ta, cái chí của ta. Có người Mệnh chẳng là cái gì, nhưng Thân họ sướng vẫn cứ sướng. Cần chi tài năng cứ sinh ra làm cậu ấm, cô chiêu ưa chi có nấy, không lo phần nhà cửa (cha mẹ chỉ lo đừng quậy là được).

     Để an được cung Mệnh cần biết Tháng sinh và Giờ sinh. 

     Các cung tiếp theo được an từ vị trí cung Mệnh theo nguyên tắc như sau: Từ vị trí cung Mệnh theo chiều thuận (thuận kim đồng hồ) an lần lượt các cung: Phụ Mẫu (Phụ), Phúc Đức (Phúc), Điền Trạch (Điền), Quan Lộc (Quan), Nô Bộc (Nô), Thiên Di (Di), Tật Ách (Tật hay Ách), Tài Bạch (Tài), Tử Tức (Tử), Phu Thê (Phối), Huynh Đệ (Bào).

     2. Cung Thân trong lá số Tử vi


     Thân trong tử vi là thân thể, thân phận, xác thân, xác thịt là con người thật của ta, thân đóng tại đâu ta chịu ảnh hưởng tại đó. Cái tốt đẹp tụ tập tại cung Thân chỉ sướng Tấm Thân thôi. Không đem lại Vinh Quang cho Mệnh. Tạm thời bạn nên chấp nhận Thân là thể xác còn phần minh chứng ở phần tiếp theo.

     Thân cần nhất là sự khỏe mạnh để chuyên chở cái Mệnh, như câu người ta nói “Một tinh thần mạnh khỏe trong một thân thể tráng kiện”. Một tinh thần chọc trời khuấy nước nằm bẹp dí trên giường ai mà sợ, thương hại thì có. Chỉ cần một thân thể bình thường thôi là quý với một ý chí hơn người là tốt. Một thân thể hùng vĩ, khôi ngô đầu óc thiếu trình độ thì làm… vệ sỹ. Dẫu sao cũng sướng kề cận quý nhân. Tệ nữa làm bốc vác,…

     Cung an Thân được an theo Tháng và Giờ sinh

     Thân chỉ có thể an vào Mệnh, Phu Quân, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch, Phu Thê và Phúc Đức.

     Có thể nhận biết ví trị cung an Thân qua Giờ sinh như sau:

     - Sinh giờ Tý, Ngọ Mệnh và Thân đồng cung;
     - Sinh Giờ Sửu, Mùi cung Thân an tại Phúc Đức (Phúc);
     - Sinh Giờ Dần, Thân cung Thân an tại Quan Lộc (Quan);
     - Sinh Giờ Mão, Dậu cung Thân an tại Thiên Di (Di);
     - Sinh Giờ Thìn, Tuất cung Thân an tại Tài Bạch (Tài);
     - Sinh Giờ Tị, Hợi cung Thân an tại Phu Thê (Phối).

     3. Cung Quan Lộc trong lá số Tử vi


     Cung Quan lộc trong lá số Tử vi là cung thể hiện mối quan hệ giữa ta và công việc, môi trường làm việc, hoàn cảnh công việc tác động tới ta. Đừng lầm tưởng Quan Lộc chỉ chủ về công việc ta làm. Muốn xác định được tính chất công việc cần phối hợp giữa nhiều cung số với nhau đặc biệt là Mệnh Thân Tài Quan Di.

     4. Cung Tài Bạch trong lá số Tử vi


     Cung Tài bạch là cung số chủ về Tài sản, có tính chất giống như cung Điền Trạch. Kết hợp giữa Mệnh và Tài đặc biệt là các cung ở Thế Nhị hợp và Lục Hội để phản ánh điều kiện của một con người, họ sử dụng đồng tiền ra sao? Từ đâu mà có hay sử dụng vào mục đích gì. Cung này cần các ngôi sao chủ về Tài Lộc là tốt.

     5. Cung Phụ Mẫu trong lá số tử vi


     Cung Phụ mẫu là cung số thể hiện mối quan hệ giữa Phụ Mẫu và ta, họ giúp ta hay không giúp ta thậm chí có ảnh hưởng xấu tới ta. Xem thử cung Mệnh và cả cung an Thân có Nhị Hợp hay Lục Hội với cung Phụ Mẫu không. Nếu cả 2 cung Thân Mệnh không Nhị Hợp hay Lục Hội ít ở gần cha mẹ. Nếu có hội họp xấu càng dễ xung khắc, tốt càng rất tốt.

     Tất cá cha mẹ ruột, nuôi hay cha mẹ vợ đều phản ánh tất cả trong cung Phụ Mẫu.

     Đại Hạn thứ 2 của một số người đi ngang qua cung Phụ Mẫu, chịu ảnh hưởng rất nhiều của cung này, và từ đó có thể hình thành nghề nghiệp về sau, do cung này gây áp lực hay hướng dẫn mình đi theo lối ấy.

     6. Cung Huynh Đệ trong lá số Tử vi


     Cung Huynh đệ là cung số thể hiện mối quan hệ giữa Huynh Đệ và ta, họ giúp ta hay không giúp ta thậm chí có ảnh hưởng xấu tới ta. Xem thử cung Mệnh và cả cung an Thân có Nhị Hợp hay Lục Hội với cung Huynh Đệ không. Nếu cả 2 cung Thân Mệnh không Nhị Hợp hay Lục Hội cuộc đời không chịu ảnh hưởng bởi cung số này. Nếu có hội họp xấu càng dễ xung khắc, tốt càng rất tốt.

     Tất cá anh chị em ruột, nuôi hay anh chị em vợ đều phản ánh tất cả trong cung Huynh Đệ.

     Đại Hạn thứ 2 của một số người đi ngang qua cung Huynh Đệ, chịu ảnh hưởng rất nhiều của cung này, và từ đó có thể hình thành nghề nghiệp về sau, do cung này gây áp lực hay hướng dẫn mình đi theo lối ấy.

     Từ vị trí cung Huynh Đệ ngoài Tam hợp phải luôn là Điền Trạch, Tam hợp trái là Tật Ách và Xung chiếu là Nô Bộc thì Huynh Đệ có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Phúc Đức, Tài Bạch, Mệnh, Thiên Di, Phu Thê, Quan Lộc.

     7. Cung Phúc Đức trong lá số Tử vi


     Cung Phúc đức trong lá số tu vi là cung khá quan trọng, có khi Thân cư tại đó càng làm cho nó quan trọng hơn. Phúc Đức là cung có liên quan đến bà con họ hàng. Tam hợp có cung Thiên Di là nơi giao lưu tiếp xúc với tất cả mọi người trong xã hội, đồng thời tam hợp với Phối cung từ đó phía bên chồng hay vợ cũng trở thành là bà con thân thuộc, đối với giới nữ bà con bên chồng còn quan trọng hơn cả bà con bên mình, vì toàn bộ cuộc đời về sau gởi gấm vào nơi ấy. Cung Phúc Đức còn xung chiếu thẳng vào cung Tài Bạch vì thế góp 1 phần không nhỏ may mắn về tiền bạc mang lại.

     Cung Phúc đức thường hay Nhị Hợp với các cung Phụ Mẫu, Điền Trach, Nô Bộc, Tật Ách, Tử Tức và cung Phối.

     Sinh vào các giờ Sửu Mùi, cung an Thân luôn luôn cư tại cung Phúc Đức.

     Cung Phúc Đức dễ tạo ra mối giao lưu tốt trong xã hội, đồng thời cũng dễ kiếm được người phối ngẫu đàng hoàng. Cung này xấu thường phải xa xứ để làm ăn, tránh những phiền toái do bà con mang lại.

     Phúc đức là cung hưởng phúc đức ông bà tổ tiên dòng họ để lại, cung này bị mất tác dụng hoặc bi phản tác dụng là điều đáng tiếc. Ta thường nghe người ta bình phẩm: Vô phúc chưa kìa lấy con vợ (hay thằng chồng) không ra gì, vô phúc ra đường gặp nạn hoặc gặp giặc. Có phúc ra đường thằng ăn cướp đã bị bắt, hoặc thằng giặc đã bỏ đi… Vì thế cung Phúc là nơi chứa phúc đức, cung Tật Ách là nơi nhận tai ách. Nếu cung Phúc bị mất tác dụng là điều đáng tiếc.

     Từ vị trí cung Phúc Đức ngoài Tam hợp phải luôn là Thiên Di, Tam hợp trái là Phu Thê và Xung chiếu là Tài Bạch thì Phúc Đức có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Phụ Mẫu, Tật Ách, Huynh Đệ, Nô Bộc, Điền Trạch, Tử Tức.

     8. Cung Phu Thê trong lá số Tử vi


     Cung Phu thê, đối với nam nhân còn gọi là cung Thê Thiếp. Thê là vợ chính, nguyên phối, vợ cả. Thiếp là vợ hầu, vợ bé, vợ hai, vợ lẻ. Cho nên có mấy vợ hay chồng cũng nằm ở cung này mà thôi. Có người ứng hợp vào sao tốt làm cho tốt thêm, có người ứng hợp vào sao xấu làm cho xấu thêm. Nhất là Mệnh cung người đó nằm ở vị trí không thích hợp mấy đối với lá số TỬ VI của mình gây nên ảnh hưởng xấu. Hay nhất, hợp lý nhất, duyên nợ nhất nằm tại vị trí cung Phối. Thường gặp trùng Mệnh hay ở Tài Quan Di và ở cung Điền cũng hợp lý. Chứ không nên leo trèo vào cung Phụ Mẫu hoặc quấy rối tại cung Tật Ách dễ đem tai họa đến cho mình.

     Cung Phu Thê tam hợp với các cung Phúc Đức, Thiên Di xung chiếu còn có cung Quan Lộc tác động mạnh vào cung này không ít.. So với cung Phúc Đức, cung Phu Thê có tầm quan trọng hơn vì luôn luôn là cung gần gũi với Mệnh, tác động lên cung Quan Lộc gây ảnh hưởng đến công danh, giao lưu tiếp xúc đi lại lên cung Thiên Di và cung Phúc Đức bà con. Nhị Hợp với các cung nhược đa phần chỉ về người. Từ đó Phối cung ảnh hưởng không ít đến cung Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Anh Em, Bạn Bè…

     Ví dụ sinh động dễ hiểu.

     Cần giúp bố mẹ (anh em, bạn bè…) một ít tiền, bàn với phối ngẫu. Được trả lời là: Ai làm nấy ăn.

     Cần mua thuốc men dùng bản thân. Được trả lời là: Ai có thân nấy lo…

     Một số người cung an Thân cư tại Phối cung làm cho cung này lại quan trọng hơn, vì tính lệ thuộc vào cung ấy, một phần cuộc sống của mình, sống độc thân là 1 điều không thể chấp nhận được, đừng hiểu lầm Thân cư vào Phối là sợ cung ấy. Muốn biết sợ hay không nhìn vào cung Phối có HÓA KỴ là sợ, là ghét là căm. Tuy nhiên cung an Thân có thể bị TUẦN hay TRIỆT vì thế dễ thất vọng trên tình trường vì nó chủ mất, nhưng có cát tinh hội họp vẫn suốt đời ăn ở với nhau.

     Cơ bản là cung Phu Thê không nên tốt hơn Mệnh, nếu nam giới cung Mệnh yếu hơn cung Thê rõ ràng có sự sút kém về danh giá. Tuy nhiên nữ giới có thể mạnh hơn cung Phu, có thể làm nổi bật cho gia đình.

     Từ vị trí cung Phu Thê ngoài Tam hợp phải luôn là Phúc Đức, Tam hợp trái là Thiên Di và Xung chiếu là Quan Lộc thì Phu Thê có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Điền Trach, Tử Tức, Tật Ách, Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Nô Bộc.

     9. Cung Tử Tức trong lá số Tử vi


     Cung Tử tức có nghĩa là cung con (tử) và cháu (tức). Cung con cái hay cung con cháu.Nếu đã có cháu. Nếu có cả dâu rể đều nằm chung tại đây. Cung Tử Tức là nơi quản lý đám con cháu, dâu rể.

     Cho ta một nhận định chung, đánh giá chung vầ các con và cháu. Phù hợp hay không, quan tâm đến hay không, có đủ trai gái hay không, vinh hay nhục vì con, nhờ con cháu.

     Cung Tử Tức luôn luôn xung với cung Điền, cho nên vấn đề nhà cửa trở nên quan trọng, tam hợp với Phụ Mẫu vì thế con cháu và ông bà thể cùng chung với nhau một mái nhà, và cũng từ đó có những nhận xét tốt xấu về cung Mệnh. Con cháu còn liên quan đến bạn bè, tôi tớ có thể cậy nhờ, cũng có thể ức hiếp lẫn nhau với muôn ngàn tình huống.

     Cung Tử tức còn Nhị Hợp, Lục Hội với 1 số cường cung quan trọng. Tác động đến dòng họ Nếu Nhị Hợp với Phúc, đến Quan Lộc cung, Thiên Di cung, Tài Bach cung và Phối cung.

     Do thế đứng tại cung Mệnh, Mệnh đóng Nhị Hợp và Lục Hội với cung Tử, bận tâm nhiều hơn kẻ khác.

     Cung Tử Nhị Hợp hay Lục Hội đến cung nào, tất nhiên sẽ tác động xấu hay tốt đến cung đó.

     Ví dụ cung Tử có THÁI DƯƠNG ngôi sao công khai, ngôi sao nam giới, ngôi sao của ngày tháng… luôn luôn Nhị Hợp và Lục Hội với THẤT SÁT và THIÊN PHỦ. Công khai cái gì với các cung liên quan và cung ấy là cung gì.

     Cung Tử Tức đối với nữ giới là cái cung quan trọng còn hơn cả cung Phu. Người nữ thường gắn bó cuộc đời mình vào con cái nhiều hơn. Việc tốt xấu cung Tử ảnh hưởng rất mạnh đến nữ giới. Thời điểm đi qua cung Tử hay đối diện với cung này, thiên tính làm mẹ người nữ rất thôi thúc rất là cao, hôn nhân muộn có thể từ cung Tử do nhu cầu làm mẹ..

     Truyền tinh: có truyền tính với cung Mệnh. Ví dụ Mệnh có SÁT PHÁ THAM con cháu cũng nhóm sao này là truyền tính.

     Truyền cung: truyền cung, cung Tử của mình nằm tại Tý, Mệnh con cũng nằm tại Tý là truyền cung. Mệnh con nằm tại cung Tử là hợp lý nhất. Đó là vai trò con cái. Chứ leo trèo nằm tại cung Phụ Mẫu có điều bất ổn, Hợp lý hơn là Mệnh con nằm trùng với cung Mệnh rất gần gũi với Mệnh ta. Và 1 số vị trí nên nằm là tại cung Điền, hơi bất lợi cho Phụ nữ vì lấy chồng đa phần phải theo chồng, cá biệt lấy chồng rồi vẫn ở với cha mẹ, Ngoài ra Mệnh con thường dễ gặp là nằm ở các cung Tài Quan Di tức là vị trí cung Mệnh luôn luôn thấy, nhờ đó thường gần gũi bố mẹ.

     Nơi Mệnh con không nên nằm là cung Tật Ách của bố mẹ, nhì là cung Phối. Nếu nằm ở Tật Ách vô tình cha mẹ phải gánh lấy tai ách bệnh hoạn của mình. Nằm ở Phối cung là sự đòi hỏi thái quá. Ví dụ mầy là con tao chứ đâu phải là chồng tao đòi hỏi xe này xe nọ…

     Thông thường người ta thường xây dựng hôn nhân tại Đại Hạn Phối hay Phúc, nếu hôn nhân xảy ra tại cung Phụ hay Huynh thuộc loại sớm, tại Tử, Điền thuộc loại muộn. Khi Đại Hạn đáo Tử Tức 1 vấn đề đặt ra là Tử Tức, Phụ Mẫu, Nô Bộc. Chính 2 cung Phụ và Nô thôi thúc Mệnh cung đến với hôn nhân. Vì thế hạn đến cung Tử bạn bè thường hay hỏi, con cái như thế nào cũng là 1 hành động thôi thúc, hoặc bố mẹ nói mầy không lo việc con cái cứ theo đám bạn bè… Bởi thế tính thôi thúc xây dựng gia đình tại cung Tử rất mạnh mẽ, thường có sự thương lượng của bố mẹ và bạn bè.

     Mệnh cung của những người đóng tại Dần Thân Tị Hợi thường quan tâm đến con cái nhiều hơn, vì lẽ nó luôn luôn Nhị Hợp và Lục Hội với cung Mệnh.

     Mệnh cung những nơi khác ít quan tâm hơn, trừ các trường hợp cung an Thân Nhị Hợp hay Lục Hội với cung Tử.

     Từ vị trí cung Tử Tức Tam hợp phải luôn là Phụ Mẫu, Tam hợp trái là Nô Bộc và Xung chiếu là Điền Trạch thì Tử Tức có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Phúc Đức, Tài Bạch, Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc, Phu Thê.

     10. Cung Tât Ách trong lá số Tử vi


     Cung Tật ách là nơi báo cho biết những tai ách và bệnh tật và còn thêm một chức năng là thay mặt ai đó đi báo tin, hoặc ai đó đến báo tin, những chuyện buồn vui đến mình...

     Cung Tật Ách luôn luôn tam hợp với Điền, Huynh xung chiếu với Phụ Mẫu. Đó là những đối tượng, vấn đề trực tiếp nó còn gián tiếp gây áp lực lên 2 cung Nhị Hợp và Lục Hội. Hai cung này lại là những cường cung quan trọng, có khi đó chính là cung Mệnh, Thân.

     Tật Ách là cung mà ta không vay nhưng lại phải trả, là cung ta không muốn nhưng lại gặp. Cũng lại là cung lạm dụng thời cơ khi ta sức không còn mạnh khỏe lại phải đương đầu khi Đại Hạn sớm nhất là 52 tuổi và muộn màn nhất là 76 tuổi. Vậy khách của THIÊN SỨ thuộc dạng người cao tuổi.

     Tật Ách là cung không phải đem lại niềm vui, rất cá biệt đến đó được an toàn.

     Ách cung còn là nơi ghi nhận những Nghiệp từ cung Mệnh. Nếu như Mệnh là Nghiệp thì Ách cung chính là cái ách phải đeo vào. Cho nên các trường hợp Mệnh Nhị Hợp hay Lục Hội với Ách, cái ách càng khó gở bỏ.

     Từ vị trí cung Tật Ách ngoài Tam hợp phải luôn là Huynh Đệ, Tam hợp trái là Điền Trach và Xung chiếu là Phụ Mẫu thì Tật Ách có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Phúc Đức, Tài Bạch, Mệnh, Thiên Di, Phu Thê, Quan Lộc.

     11. Cung Nô Bộc trong lá số Tử vi


     Phản ánh mối quan hệ giữa ta và cung Nô Bộc. Tất cả những ai mà ta có thể sai được thì được kể là Nô Bộc. Về Cơ bản cung Nô Bộc nên yếu hơn cung Mệnh.

     Thân không bao giờ an vào Nô Bộc tuy nhiên vị trí cung Mệnh hay Thân có thể Nhị Hợp hay Lục Hội với cung Nô Bộc. Từ đó càng làm tăng tính chất tương tác từ cung Nô Bộc tới Mệnh Thân. Có khi ta phải dựa vào Nô Bộc mà sống, mà phát triển nhưng ngược lại Tai Ách từ đó mà ra.

     Từ vị trí cung Nô Bộc ngoài Tam hợp phải luôn là Tử Tức, Tam hợp trái là Phụ Mẫu và Xung chiếu là Huynh Đệ thì Nô Bộc có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Phúc Đức, Tài Bạch, Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc, Phu Thê.

     12. Cung Điền Trạch trong lá số Tử vi


     Cung Điền trạch giống như cung Tài Bạch, nó phản ảnh về Tài sản. Phối hợp với Mệnh Thân giúp ta đoán về ngôi nhà.

     Điền Trach là một cung số khá thú vị. Khi Mệnh hay Thân Nhị Hợp hay Lục Hội với cung này thì cuộc đời ảnh hưởng nhiều tới cung Điền. Nếu Điền Trach ở thế Lục Hội hay Hội Họp với cung Khác thì ta đoán cung này chịu ảnh hưởng từ các cung đó. Xấu tốt ra sao phụ thuộc vào các cách cục của lá số.


     Từ vị trí cung Điền ngoài Tam hợp phải luôn là Tật Ách, Tam hợp trái là Huynh Đệ và Xung chiếu là Tử Tức thì Điền Trach có thể Lục Hội hay Nhị hơp với các cung: Tài Bạch, Phúc Đức, Mệnh, Thiên Di, Quan Lộc, Phu Thê.

Các sao an cố định trong tử vi

Vòng trường sinh 

Muốn có vòng TRƯỜNG SINH, ta phải biết vị trí an cung Mệnh, vô hình chung đã vận dụng tháng và giờ sinh. Tiếp căn cứ vào Can của năm sinh. Ta lại có cục (tức là cuộc) tùy theo cục thuộc hành gì ta có vị trí an TRƯỜNG SINH. Như thế muốn an vòng TRƯỜNG SINH ta có 3 yếu tố giờ, tháng, năm tính theo Can. Tùy thuộc cục gì căn cứ vào ngày sinh, ta lại an được sao TỬ VI.
     Thủy Nhị Cục và Thổ ngũ cục an tại Thân;
     Mộc Tam Cục an tại Hợi;
     Kim Tứ Cục an tại Tị;
     Hỏa Lục Cục an tại Dần.
    Nếu như vòng LỘC TỒN thiên về nghề nghiệp và sự tồn vong. Vòng THÁI TUẾ thiên về tính cách con người và có tính thọ. Vòng TRƯỜNG SINH thiên về sức khỏe. Đừng hiểu lầm giữa sức khỏe và tuổi thọ. Một người sức khỏe kém nhưng vẫn thọ, một người sức khỏe tốt lại yểu. Hai vòng này bổ sung cho nhau là hợp cách.
    Tùy theo tuổi, như Giáp Ất Canh Tân có khi có 3 vòng này tại Mệnh. Các tuổi còn lại tối đa chỉ có may mắn là 2 vòng mà thôi. Tất nhiên có người lại không may mắn có cả 3 vòng sao này.
     Vòng TRƯỜNG SINH và LỘC TỒN luôn luôn đi cùng chiều với nhau, cùng xuôi hay cùng ngược. Dù xuôi ngược như thế nào chu kỳ của nó vẫn là TRƯỜNG SINH, MỘC DỤC, QUAN ĐỚI, LÂM QUAN, ĐẾ VƯỢNG, SUY, BỆNH, TỬ, MỘ, TUYỆT, THAI và DƯỠNG. Quan trọng là vị trí đóng tại đâu, khởi hành từ đâu.
     Qua thực tế chiêm nghiệm những lá số TỬ VI Mệnh đóng ở các vị trí THAI, DƯỠNG, TRƯỜNG SINH được xem là hay nhất, kế đó là MỘC DỤC, QUAN ĐỚI, LÂM QUAN, ĐẾ VƯỢNG. Nhưng vị trí còn lại kém hay là SUY, BỆNH, TỬ, MỘ, TUYỆT.
     Ý nghĩa của vòng TRƯỜNG SINH là vòng đời, cũng như quan niệm của Phật giáo Sinh Lão Bệnh Tử. Nó bắt nguồn từ bào thai với tên là THAI. Từ bào thai sinh ra đứa bé được nuôi nấng gọi là DƯỠNG với nghĩa nuôi dưỡng. Vào tuổi thiếu niên sự sống rõ ràng vững chắc và đã trở thành 1 sinh đồ (học trò) mang tên TRƯỜNG SINH với nhiều sức sống. Sau đấy lại biết làm duyên dáng tắm gội vào tuổi dậy thì, gọi là MỘC DỤC. Tiếp đến lo việc công danh, tìm việc mang tên LÂM QUAN, đeo đuổi công việc đó gọi là QUAN ĐỚI, tất nhiên mỗi ngày mỗi có địa vị đươc gọi là ĐẾ VƯỢNG nơi thịnh vượng nhất của cuộc đời, cũng là nơi sức khỏe đạt đỉnh. Khi đến đỉnh là dấu hiệu suy sụp đã bắt đầu. Người ta gọi là SUY với nghĩa suy sụp. Từ đó cơ thể dễ bị BỆNH tật xâm nhập, chuyển qua cái chết, vì thế mới gọi là TỬ, một nấm mồ được xây lên 
gọi là MỘ.
     Thời gian làm đổi thay tất cả, nấm mồ ấy cũng chẳng còn, thiên nhiên đã lấy lại như thuở ban đầu, đến đây thì mất hẵn. Vì thế gọi là TUYỆT với nghĩa mất hẵn. Và vòng đời lại tiếp tục trở lại với sao THAI. Cũng như mọi sinh vật con người cũng thế, vòng đời con người có thể đạt đến 120 năm, nhưng nào mấy ai có được vì rơi vào TỬ MỘ TUYỆT. Nếu Mệnh đóng tại TRƯỜNG SINH thì cũng 80 năm sau đã qua chữ TỬ. Nếu đóng ở THAI có thể đến cả 100 năm. Vì thế nếu Mệnh đóng tại vị trí TỬ MỘ TUYÊT nếu qua được tuổi thọ có thể rất là dài. Vì đến hạn 60 họ mới đạt chữ TRƯỜNG SINH cứ như là cải lão hoàn đồng.
     Khi đau yếu bệnh hoạn càng quan tâm vị trí TRƯỜNG SINH nhiều hơn.
     Phương pháp an các sao trong Tử Vi
     Có 4 ngôi sao được an cố định tại các cung trong Tử Vì là: 
     THIÊN THƯƠNG, THIÊN SƯ, THIÊN LA ĐỊA VÕNG trong đó:
     THIÊN THƯƠNG: luôn an cố định tại cung Nô Bộc;
     THIÊN SỨ: luôn an cố định tại cung Tật Ách;

     THIÊN LA: luôn an cố định tại cung Thìn;
     ĐỊA VÕNG: luôn an cố định tại cung Tuất.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Cách luận lá số tử vi

Muốn lập thành một lá số Tu vi cần phải hội đủ 4 yếu tố là Năm-Tháng-Ngày-Giờ sinh theo Âm Lịch. Cách lập thành lá số Tử Vi nói chung có nguyên tắc chỉ dẩn khá rỏ ràng, nhưng về phương cách giải đoán thì còn phải tùy theo trình độ, cơ duyên và kinh nghiệm... của người giải đoán mà sẽ có những lời giải đoán khác nhau.


Để giải đoán được Tu Vi giỏi, đại khái cần phải có 4 điều kiện sau:
Trí nhớ - Tử Vi là một khoa lý số cổ học rất phức tạp nên rất cần có trí nhớ tốt để thuộc các nguyên lý của Âm dương, Ngũ hành, Can Chi và ý nghĩa tính chất của các Sao.
Suy luận - Phải suy luận để phân tích, phối hợp, chế hóa sự sinh khắc của âm dương ngũ hành và xấu tốt của các sao đóng tại mỗi cung số.

Trực giác - Cần phải có trực giác bén nhạy để giúp ích cho những sự suy luận.

Kinh nghiệm - Phải thực hành cho nhiều, đối chiếu phần thực nghiệm với lý thuyết để suy luận ra những lời giải đoán cho súc tích, phong phú và chính xác.
Những Nguyên Tắc Căn Bản phải nhớ

Những nguyên tắc căn bản về Âm Dương / Can Chi và Ngũ hành sinh khắc .

Những quy tắc phối chiếu của Tam hợp - Nhị hợp - Xung chiếu giữa các cung trong lá số Tử Vi.

Những Tiến Trình Luận Đoán Số phải theo  Xét sự thuận nghịch về lý âm dương giữa Năm sinh với vị trí cung an Mệnh để biết tổng quát tốt xấu của cung cần giải đoán.

Xét sự sinh khắc ngũ hành của Can Chi Năm sinh

Xét sự tương quan ngũ hành giữa bản Mệnh và Cục

Xem phối hợp hai cung tam hợp với cung an Mệnh-Thân

Xem phối hợp cung nhị hợp với cung an Mệnh-Thân

Xem phối hợp cung xung chiếu với cung an Mệnh-Thân

Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Thái Tuế trên lá số

Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Lộc Tồn trên lá số

Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Tràng Sinh trên lá số

Phải xét qua tất cả các yếu tố trên rồi phối hợp lại để đưa ra lời lý giải tổng quát về những nét đại cương của cuộc đời cho lá số.

Những Đặc Tính của các Sao phải hiểu

Xem tổng hợp bộ cách của Chính tinh và các trung tinh tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân và cung Phúc Đức để biết tổng quát lá số của mình được các cách gì.

Xem ý nghĩa và đặc tính của Chính tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung Mệnh và Thân.

Xem ý nghĩa và đặc tính của các Trung tinh và Phụ tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp của cung Mệnh-Thân.

Xét ý nghĩa, đặc tính, vị trí và sự đắc hãm của các Hung Sát tinh trên lá số.

Xem ảnh hưởng của các Hung Sát Bại tinh (nếu có) tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại các cung quan trọng như tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân và cung Phúc Đức.

Xét tới giá trị và ảnh hưởng biến đổi của các sao theo thời gian của mệnh số.

Xem sự liên đới của các sao với nhau, nếu các sao này kết hợp thành cách cục hay bộ cách thì sẽ có tác dụng mạnh mẽ hơn là đóng đơn lẽ hay lạc lỏng.
Những cung cần phải xem

Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung liên hệ đến bản thân mình là Quan lộc - Tài bạch - Tật ách - Thiên di - Điền trạch - Nô bộc.

Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung liên hệ đến lục thân như Phối ngẫu - Tử tức - Phụ mẫu - Huynh đệ

Những Vận Hạn Trong Cuộc Đời phải biết

Cách Giải Đoán Vận Hạn

Xem các Đại vận 10 năm của lá số

Xem Tiểu vận từng năm Luận về cung tam hợp

Sách số nào cũng chỉ khi xem một cung thì phải xem phối hợp: cung chính, hai cung tam hợp, cung xung chiếu và cung nhị hợp, tất cả là 5 cung cùng một lúc để giải đoán.